I - Bình chữa cháy
A. Bình bột chữa cháy

| Bình bột dùng để chữa cháy các chất rắn, chất
lỏng, chất khí và các chất khí hoá lỏng dễ cháy, chữa cháy kim loại bằng các
loại bình bột đặc biệt. |
Bình bột có thể sử dụng để chữa cháy điện hạ thế
( dưới 1000V). 1. Loại xách tay

|
|
Bình bột BC
|
Bình bột ABC
|
Trọng lượng
|
áp suất (20oC)
|
Thời gian phun
|
Khoảng cách phun
|
|
MFZ1
|
MFZL1
|
1kg
|
1,4 Mpa
|
6s
|
2,5m
|
|
MFZ2
|
MFZL2
|
2kg
|
1,4 Mpa
|
8s
|
2,5m
|
|
MFZ3
|
MFZL3
|
3kg
|
1,4 Mpa
|
8s
|
2,5m
|
|
MFZ4
|
MFZL4
|
4kg
|
1,4 Mpa
|
9s
|
4m
|
|
MFZ5
|
MFZL5
|
5kg
|
1,4 Mpa
|
9s
|
4m
|
|
MFZ8
|
MFZL8
|
8kg
|
1,4 Mpa
|
12s
|
5m
|
|
2. Loại xe đẩy

|
| Bình bột BC | Bình bột ABC | Trọng lượng | áp suất (20oC) | Thời gian phun | Khoảng cách phun | | MFTZ25 | MFTZL25 | 25kg | 1,4 Mpa | 15s | 7m | | MFTZ35 | MFTZL35 | 35kg | 1,4 Mpa | 20s | 8m |
|
B. Bình chữa cháy CO2

| Bình CO2 dùng để chữa cháy điện (điện hạ thế,
trung thế và cao thế). |
Bình CO2 không chữa được kim loại cháy, hồ quang và một số
chất giầu oxi.
1. Loại xách tay:

|
|
Bình CO2
|
Trọng lượng
|
Môi trường
|
Thời gian phun
|
Khoảng cách phun
|
|
MT2
|
2kg
|
- 100C ~ 550C
|
8s
|
1,5m
|
|
MT3
|
3kg
|
- 100C ~ 550C
|
8s
|
1,5m
|
|
MT5
|
5kg
|
- 100C ~ 550C
|
9s
|
2m
|
|
2. Loại xe đẩy:

|
|
Bình CO2
|
Trọng lượng
|
Môi trường
|
Thời gian phun
|
Khoảng cách phun
|
|
MTT24
|
24kg
|
- 100C ~ 550C
|
20s
|
4m
|
|
C - Vòi chữa cháy Vòi chữa cháy được sử dụng cho mục đích chữa
cháy khi đám cháy mới bùng phát, trước khi sử dụng đến trụ nước cứu hoả.
Vòi chữa cháy được sản xuất cho
phạm vi sử dụng đa dạng với kích thước khác nhau:
|
Đường kính vòi (mm)
|
38
|
45
|
52
|
65
|
70
|
75
|
|
Màu sắc
|
Trắng / Đỏ / Da cam /
Đen…
|
|
Áp suất nổ (bar)
|
55
|
50
|
50
|
48
|
47
|
46
|
|
Áp suất làm việc (bar)
|
22.5
|
|
Nhiệt độ
|
-200C ~ +500C
|
D - Bồn chứa bột chữa cháy 
| Bồn chứa bọt dạng bladder là một bồn chứa có
chức năng trộn bọt bằng cách tận dụng áp lực của dòng nước để hút bọt đậm đặc
và hoà trộn nó với nhau tạo thành một dung dịch hỗn hợp để chữa cháy. |
( Foam Liquid Tank )
HN-H (Bồn ngang) / HN-V (Bồn đứng)
Kiểu: Bồn chứa nằm với một tứi chứa có chức năng giãn
nở bên trong
Áp lực làm việc: 9 & 13 kg/ cm2
Áp lực thiết kế: 9,9 & 14,3 kg/ cm2
Áp lực thử nghiệm:14,85 & 21,45 kg/ cm2
ỨNG DỤNG
Bồn chứa bọt dạng bladder (dạng túi chứa có chức năng
dãn nở bên trong) là một bồn chứa có chức năng trộn bọt bằng cách tận dụng áp
lực của dòng nước để hút bọt đậm đặc và hoà trộn nó với nhau tạo thành một dung
dịch hỗn hợp để chữa cháy. Lượng bọt được hút vào bồn chứa phụ thuộc vào lưu
lượng và áp lực của dòng nước.
|
Bồn ngang
|
|
Bồn đứng
|
|
Model
|
Dung tích
|
Chiều dài
|
|
Model
|
Dung tích
|
Chiều cao
|
|
HN-H 300
|
300 gal
|
2322 mm
|
|
HN-V 300
|
300 gal
|
2810 mm
|
|
HN-H 400
|
400 gal
|
2258 mm
|
|
HN-V 400
|
400 gal
|
2883 mm
|
|
HN-H 500
|
500 gal
|
2700 mm
|
|
HN-V 500
|
500 gal
|
3031 mm
|
|
HN-H 600
|
600 gal
|
2573 mm
|
|
HN-V 600
|
600 gal
|
2959 mm
|
|
HN-H 700
|
700 gal
|
2923 mm
|
|
HN-V 700
|
700 gal
|
3315 mm
|
|
HN-H 800
|
800 gal
|
2710 mm
|
|
HN-V 800
|
800 gal
|
3670 mm
|
|
HN-H 900
|
900 gal
|
3000 mm
|
|
HN-V 900
|
900 gal
|
4255 mm
|
|
HN-H 1000
|
1000 gal
|
3280 mm
|
|
HN-V 1000
|
1000 gal
|
3175 mm
|
|
HN-H 1100
|
1100 gal
|
2981 mm
|
|
HN-V 1100
|
1100 gal
|
3454 mm
|
|
HN-H 1200
|
1200 gal
|
3232 mm
|
|
HN-V 1200
|
1200 gal
|
3785 mm
|
|
HN-H 1300
|
1300 gal
|
3682 mm
|
|
HN-V 1300
|
1300 gal
|
4064 mm
|
E - Trụ nước 3 cửa 
| Trụ nứơc chữa cháy là thiết bị chuyên dùng được
lắp đặt vào hệ thống đường ống cấp nước dùng để lấy nước phục vụ chữa cháy. |
TRỤ NƯỚC BA CỬA (Outdoor Water Hydrant 3 Way)  |
HN-77 & HN-125
Chiều cao (nổi trên mặt đất): 750 + 20mm
Áp suất làm việc: 10 - 15kg/cm3
Đường kính thân trụ: 125 + 0,5mm
Độ mở van trụ: 30mm
Lưu lượng tối đa: 28l/ giây
Chiều dài van trụ: 120 + 10mm
Kích thước họng ra: HN-77 Ren trong: 68 + 0.3mm
Ren ngoài: 77 + 0,1mm
HN-125 Ren trong: 110 + 0,5mm
Ren ngoài: M150 x 6
|
Ứng dụng: Dùng để lắp đặt cho các đô thị, khu công nghiệp,
và các công trình qua trọng dùng để cung cấp nước chữa cháy mà không dùng vào
các sinh hoạt thông thường khác.
Chi tiết lắp đặt:
- Lắp mặt bích của đế trụ hình chữ S vào đường ống cấp nước của đô thị hay
công trình
- Lắp thân trụ nước vào bích của đế trụ hình chữ S
- Giữa các mặt tiếp giáp được gắn một gioăng đệm cao
su chịu áp lực được cố định với nhau bằng ECU G - Lăng cầm tay
|
SIZE
|
EF 40
|
WEIGHT
|
2.90kg
|
|
FLOW RATE
|
305LPM (7.0kg/cm2)
|
YEAR
|
2002
|
|
FOAM TYPE
|
3%
|
MODEL
|
SL – 17PS
|
II . Hệ thống chữa cháy tự động A - Đầu phun sprinkler 10-10-2005 Đầu phun là một thiết bị được lắp đặt trong hệ
thống chữa cháy bằng nước với dàn phun sprinkler (hệ thống sprinkler). 
|
|
Model
|
Loại
|
Lỗ phun
|
Lưu lượng
|
Giới hạn
|
Chất liệu
|
|
HN-5
|
Phun lên
|
1/2²
|
80 l/phút
|
720C
|
Đồng
|
|
HN-6
|
Phun xuống
|
1/2²
|
80 l/phút
|
1050C
|
Đồng
|
|
HN-7
|
Vách tường
|
1/2²
|
80 l/phút
|
1430C, 1830C
|
Đồng
|
|
Ứng dụng:
Đầu phun là một thiết bị được lắp đặt trong hệ thống chữa cháy bằng nước với
dàn phun sprinkler (hệ thống sprinkler). Nó là dang đàu phun kín luôn ở chế độ
thường trực, đầu phun được mở ra khi đạt tới nhiệt độ quy định, dùng để chữa
cháy cho các công trình công cộng, kho tàng, các chất rắn, lỏng, khí…Đầu phun
chữa cháy bằng cách phun trực tiếp lên bề mặt vật chất cần được bảo vệ và chỉ
chữa cháy cục bộ trên một diện tích nhất định. Đầu phun co ba dạng: phun xuống,
phun lên và phun nuoc vách tường.
B - Hệ thống Drencher Với đầu phun hở, khi có cháy toàn bộ diện tích
phía dưới các đầu phun được phun chất chữa cháy
ĐẦU
PHUN HỞ HÃNG PING’AN FIRE-FIGHTING:

| 
| 
| | Model: ZSTMS | Model: ZSTWB | Model: ZSTWC |
C - Hệ thống Sprinkler

| Dập tắt đám cháy bằng cách phun nước trực tiếp
vào khu vực đang cháy mà tại đó đầu phun sprinkler bị kích hoạt ở ngưỡng nhiệt
độ đã được xác định trước. |
Hệ Thống Chữa Cháy Sprinkler là loại hệ thống chữa cháy phổ biến nhất
hịện nay.
Nó dập tắt đám cháy bằng cách phun
nước trực tiếp vào khu vực đang cháy mà tại đó đầu phun sprinkler bị kích hoạt
ở ngưỡng nhiệt độ đã được xác định trước.
"Hệ Thống Sprinkler là một hệ
thống liên kết các đường ống chạy ngầm dưới đất và trên mặt đất, được thiết kế
theo những tiêu chuẩn của công nghệ chữa cháy. Có thể bố trí một hoặc nhiều
nguồn cấp nước tự động. Phần hệ thống nằm trên mặt đất là một mạng đường ống
được thiết kế theo nguyên tắc "tính toán thủy lực" hoặc nguyên tắc
"định cỡ đường ống", và được lắp đặt bên trong một building, một công
trình kiến trúc, hoặc một khu vực, mà nhìn chung, nó nằm cao qúa đầu, và trên
đường ống ấy, những đầu sprinklers được bố trí sao cho khi phun nước ra, nó bao
trùm một vùng không gian được tính toán trước. Van điều khiển mỗi riser của hệ
thống được đặt trên riser hoặc trên đường ống cấp nước cho nó. Mỗi riser của hệ
thống sprinkler gồm có một thiết bị kích hoạt báo động khi hệ thống khởi động
vận hành chữa cháy. Thường thì hệ thống được kích hoạt bằng nhiệt phát ra từ
đám cháy, và nó phun nước ra phủ trên khu vực có cháy.
Có nhiều loại hệ thống sprinkler:
Wet Pipe System (Hệ Thống Có
Nước). Là hệ thống sprinkler có các đầu sprinklers tự động được gắn vào hệ
thống ĐƯỜNG ỐNG CÓ CHỨA SẴN NƯỚC, và nối kết với nguồn nước, nhờ đó, nước sẽ
phun ra ngay lập tức, qua các sprinklers đã mở do nhiệt từ đám cháy phát ra
kích hoạt.
Dry Pipe System (Hệ Thống Khô). Là
hệ thống sprinkler có các đầu sprinklers tự động được gắn vào hệ thống ĐƯỜNG
ỐNG CÓ CHỨA không khí hoặc nitrogen được duy trì bởi áp lực, và khi sprinklers
đã mở do nhiệt từ đám cháy phát ra kích hoạt, khí bên trong đường ống thoát ra,
cho phép áp lực nước làm mở dry pipe valve. Nhờ đó, nước chảy vào hệ thống
đường ống, và rồi phun nước ra qua các sprinkler đã mở.
Preaction System (Hệ Thống Kích
Hoạt Trước). Là hệ thống sprinkler có các đầu sprinklers tự động được gắn vào
hệ thống đường ống có chứa không khí, có thể có hoặc không có áp lực, và có một
hệ thống báo cháy bổ sung được lắp đặt tại cùng những vị trí có đặt đầu
sprinkler. Khi hệ thống báo cháy kích hoạt, nó sẽ mở van cho phép nước chảy vào
hệ thống đường ống, và rồi phun nước ra qua các sprinkler đã mở.
Deluge System (Hệ Thống Hồng
Thủy). Là hệ thống sprinkler dùng các đầu sprinklers mở sẵn được gắn vào một
nguồn nước, qua một van mà van đó sẽ được mở do sự kích hoạt của một hệ thống
báo cháy được lắp đặt tại cùng những vị trí có đặt đầu sprinkler. Khi van này
mở, nước sẽ chảy vào hệ thống đường ống, và rồi phun nước ra qua tất cả các
sprinklers đã lắp đặt.
Combined Dry Pipe-Preaction System (Hệ Thống Kết Hợp
Hồng Thủy-Kích Hoạt Trước) Là hệ thống sprinkler có các đầu sprinklers tự động
được gắn vào hệ thống đường ống có chứa không khí, có áp lực, và có một hệ
thống dò cháy bổ sung được lắp đặt tại cùng những vị trí có đặt đầu sprinkler.
Khi hệ thống dò cháy kích hoạt, nó sẽ kích các thiết bị nhả và rồi thiết bịi
nhả này sẽ mở các dry pipe valves cùng lúc mà không mất áp lực không khí trong
hệ thống. Việc kích hoạt hệ thống báo cháy cũng làm mở các van xả khí đặt ở
điểm cuối của feed main. Các van xả khí, thông thường, sẽ được mở trước khi các
đầu sprinkler mở. Hệ thống dò cháy đồng thời cũng hoạt động như một hệ thống
báo động...." III - Hệ thống chữa cháy bề mặt A - Dùng nước vách tường

| Những hiện trường được xếp loại nguy hiểm về hỏa
hoạn cao, không thể chữa cháy bằng hệ thống sprinkler thông thường, mà phải
dùng Hệ Thống Chữa cháy bằng nước vách tường |
Hệ Thống Hồng Thủy được thiết kế
để phun ra một lượng nước lớn, dày đặc. Nó bao trùm một vùng rộng, phun nước ra
cùng một lúc bởi nhiều vòi phun, được bố trí thành dãy tùy theo yêu cầu của
từng hiện trường.
Có 3 nguyên tắc chữa cháy bằng hệ
thống hồng thủy:
1. Tác dụng làm nguội: Dùng nước
để làm nguội bầu không khí nóng lên do cháy và do nước bốc hơi, đồng thời giữ
cho nhiệt độ của vật chất ở dưới ngưỡng nhiệt độ bốc cháy. Làm nguội để hạn chế
lây lan và mau chóng dập tắt cháy.
2. Tác dụng phủ kín: Một lượng hơi
nước khổng lồ, khoảng 1650 lần thể tích nươc, bao phủ mặt phẳng đang cháy, ngăn
không cho oxygen tiếp cận ngọn lửa. Tách oxygen nghĩa là lửa không còn điều
kiện để tiếp tục cháy.
3. Tác dụng cô đặc: Hạt nước li ti
hòa trộn với dầu, tạm thời quánh dầu thành một lớp nhủ tương trên bề mặt, ngăn
không cho dầu bốc hơi. Dầu không bốc hơi thì lửa không còn điều kiện hoành
hành.
Hệ thống có thể kích bằng điện
(qua các đầu báo cháy), hoặc kích bằng các đầu sprinkler theo kiểu Wet Pilot
(ống có chứa nước), hoặc theo kiểu Dry Pilot (ống không chứa nước).
Các loại Hệ Thống Hồng Thủy phân
biệt theo tốc độ phun:
Tốc độ trung bình: Có tác dụng
khống chế đám cháy bằng cách làm lạnh môi trường đang cháy. Với những vòi phun
đặc biệt, nó sẽ phun thành những chùm tia nước li ti, tạo một màng sương theo
dạng hình nón, làm lạnh mặt phẳng đang xảy ra sự cố, bằng cách loại trừ hơi
nóng ra khỏi nơi nguy hiểm và tạo một màn chắn ngăn chặn bức xạ nhiệt.
Tốc độ cao: Phun ra những chùm tia
nước có giọt tương đối lớn, cực mạnh, làm cho dầu đọng lại thành giọt gần mặt
phẳng đang cháy, làm dầu nguội đi, và ngăn không cho nó bốc hơi thêm nữa. Nhờ
dùng một lượng nước cực lớn trong một không gian nhỏ, ngọn lửa nhanh chóng được
dập tắt.
Nếu một dòng nước mạnh bắn vào dầu
đang cháy, nước thọc sâu vào bên dưới mặt phẳng của dầu, và dầu sẽ nổi lên bên
trên nước, lớp dầu nổi ấy tiếp tục bốc hơi và cháy.
Nhưng, nếu nước được phân phối
dưới dạng những tia nước vừa thô vừa nhuyễn, nước trở thành phương tiện hiệu
qủa và ít tốn kém nhất để dập tắt những đám cháy phát ra từ loại dầu nặng và
trung bình.
Nếu nước được phân phối dưới dạng
những tia nuớc li li như sương mù, và khi mặt phẳng của chất lỏng đang bốc hơi
bị trùm phủ hoàn toàn, cùng lúc, thì những giọt nước li ti ấy tỏ ra hữu hiệu để
dập tắt ngọn lửa bên trên bề mặt của loại dầu nhẹ như kerosene, và, trong điều
kiện thuận lợi đặc biệt (được khoanh vùng, chia khu), nó chữa được những đám
cháy từ dầu lửa.
Nói tóm lại, nước dưới dạng tia nước nhuyễn thì có thể
chữa cháy hiệu qủa trên bề mặt dầu trước khi nó chìm vào dưới lớp dầu.B - Hệ thống Foam 
| Hệ thống chữa cháy bằng bọt (foam), khi được
kích hoạt, sẽ phun ra một loại bọt bao phủ lên trên bề mặt xăng dầu, tách chất
lỏng dễ cháy ra khỏi không khí và lửa, nhờ đó ngọn lửa bị dập tắt. |
Do tính chất hữu hiệu của nó, đồng thời do nó giảm thiểu lượng nước cần
dùng, hệ thống foam hiện nay được tin dùng rộng rãi. Giảm số lượng chất chữa
cháy cần dùng để dập tắt lửa, nghĩa là giảm thiểu sự hư hỏng thiết bị, đồ dùng,
giảm ô nhiễm môi trường do nước phun ra, đặc biệt là tại những nơi có chứa chất
độc hại.
Đối với loại foam giãn nở cao, thì hầu như chẳng hư hại gì cả cho hàng
hóa, và chỉ trong một thời gian ngắn, cả nhà kho đều trở lại bình thường.
Hệ thống foam được ứng dụng tại những nơi đặc biệt có rủi ro cao về cháy
nổ, được chọn lựa thận trọng, yêu cầu phải trang bị thích hợp chất bọt cô đặc,
hệ thống trộn bọt, các thiết bị phun bọt, và sự phối hợp hưu hiệu giữa các bộ
phận ấy trong một hệ thống chữa cháy.
Bọt cô đặc là một chất đối chọi với xăng dầu. Mặc dù nó có cùng chung
tiêu chuẩn, tuy nhiên, mỗi loại bọt - protein và fluoroprotein - có những đặc
điểm riêng, ứng dụng thích hợp hoặc kém thích hợp hơn đối với từng hiện trường
cụ thể.
Hệ thống trộn bọt có thể là loại "balanced pressure" hoặc
"inline".
Đầu phun bọt có thể là đầu sprinkler, spray, nozzle, monitor, foam
pourer, hoặc high expantion foam generator, tùy theo hệ thống foam được dùng.
Nguyên Lý Chữa Cháy
Tùy theo loại bọt, foam có thể chữa cháy bằng nhiều cách:
Hoặc là dùng bọt foam phủ trùm lên trên bề mặt chất cháy một lớp bọt dày,
dập tắt ngọn lửa và cách ly nhiên liệu không cho tiếp tục tiếp xúc với không
khí, hoặc là làm lạnh nhiên liệu bằng lượng nước có chứa trong bọt, hoặc là
trùm phủ không cho chất lỏng (nhiên liệu) bốc hơi và hòa trộn vào không khí.
Bọt Chữa Cháy Foam là gì?
Nói đơn giản, bọt chữa cháy là một mãng bọt có khối lượng lớn, có tính
bền, chứa đầy không khí, có tỷ trọng nhỏ hơn dầu, xăng, hoặc nước. Foam được
tạo ra bởi 3 thành phần: nước, bọt cô đặc, và không khí. Nước được trộn với bọt
cô đặc, tạo thành một dung dịch foam. Dung dịch này lại được trộn với không khí
(hút không khí) để tạo ra một loại bọt chữa cháy có đủ tính năng, sẵn sàng phun
lên bề mặt vật gây cháy và dập tắt cháy.
Vài Loại Bọt (thông dụng):
Foam AFFF là chất bọt mà sẽ tạo ra một màn sương phủ trên mặt phẳng của
nhiên liệu có hydrocarbon.
Foam ARC (alcohol-resistant concentrate) là chất bọt mà sẽ tạo ra một màn
nhấy trên mặt phẳng của loại nhiên liệu không hòa tan. IV - Hệ thống chữa cháy bằng khí tự xả B - Hệ thống FM 200 
| Hệ thống chữa cháy FM200/HFC227ea (miniPackage)
được thiết kế để bảo vệ một không gian hẹp (dưới 1500 m3). |
Hệ thống chữa cháy FM200/HFC227ea (miniPackage) được thiết kế để bảo vệ
một không gian hẹp (dưới 1500 m3). Nó phun ra một chất khí chữa cháy
"sạch" có tên là FM200 (Tyco, Kidde) hoặc HFC227ea (Nittan).
Chất khí này không những có tác dụng chữa cháy hiệu quả, mà nó còn cân
bằng được lượng khí O2 cần thiết để cho con người hô hấp tạm thời trong trường
hợp khẩn cấp. Ngoài ra, với chất khí chữa cháy "sạch" này, sau khi
hoàn tất nhiệm vụ chữa cháy, nó không để lại hậu qủa tai hại nào đối với các
vật dụng, máy móc nằm trong khu vực vừa được chữa cháy.
Hệ thống này ứng dụng thích hợp tại những môi trường trong sạch, nơi có
con người làm việc, và có trang bị những loại máy móc hoặc dữ liệu có giá trị
cao.
Hệ thống CO2
| Hệ thống này ứng dụng tại những nơi mà nếu dùng
những chất chữa cháy khác có thể làm hư hỏng máy móc, thiết bị. |
CO2 là một chất khí sạch, không làm rỉ sét, nó dập tắt cháy bằng cách làm
loãng hỗn hợp không khí & CO2 tới một tỷ lệ ở dưới mức giới hạn có thể duy
trì sự cháy. Hệ thống này ứng dụng tại những nơi mà nếu dùng những chất chữa
cháy khác có thể làm hư hỏng máy móc, thiết bị.
Vì khí phun ra có thể gây ngạt thở cho con người hiện
diện trong khu vực, vì vậy, hệ thống luôn luôn dành một thời gian trì hoãn với
tín hiệu báo động để cảnh báo trước khi phun khí, để con người kịp thoát ra
khỏi khu vực nguy hiểm.
Số lượt đọc:
405
-
Cập nhật lần cuối:
03/04/2010 10:55:56 AM |